Tranh chấp đất đai (TCĐĐ) là một hiện
tượng bình thường trong mọi đời sống xã hội, không phụ thuộc vào chế độ sở hữu
đất đai. Đối với Việt Nam, trong suốt thời gian từ khi chế độ sở
hữu toàn dân đối với đất đai được thiết lập từ năm 1980 cho đến nay, TCĐĐ luôn là vấn đề thời
sự, có những diễn biến rất phức tạp, ảnh hưởng xấu đến việc quản lý, sử dụng
đất (SDĐ) nói riêng và gây những bất ổn nhất định đối với đời sống kinh tế - xã
hội nói chung. Sự kiện Bộ Tài nguyên - Môi
trường từng đề xuất thành lập một cơ quan tài phán chuyên trách để giải quyết
các tranh chấp, khiếu kiện về đất đai đã phần nào cho thấy tính chất nghiêm
trọng của vấn đề. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình
trạng trên, mà một trong số đó chính là do quy định của pháp luật về vấn đề
TCĐĐ trong thời gian qua còn nhiều bất cập, hạn chế. Bài viết này không có tham
vọng đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề vừa nêu, mà chỉ
nhằm làm rõ về mặt học thuật, cũng như về mặt pháp lý khái niệm TCĐĐ theo
Luật
Đất đai năm 2003 (LĐĐ 2003) – Luật Đất đai hiện hành. Đây là một vấn đề nhỏ nhưng lại có ý
nghĩa nhất định trong việc xác định chính xác về thẩm quyền, thủ tục và nội
dung cần giải quyết đối với một TCĐĐ.
Trải nhiều giai
đoạn với những chính sách đất đai khác nhau, cho dù đất đai có được coi là một
loại tài sản có giá, quyền sử dụng đất (QSDĐ) có phải là hàng hóa đặc biệt hay
không, hiện tượng TCĐĐ đều được pháp luật chính thức ghi nhận và quy định việc
giải quyết. Tuy nhiên, cho đến trước khi LĐĐ 2003 ra
đời, thuật ngữ “
TCĐĐ” chưa một lần được chính thức giải thích, mà chủ yếu là
chỉ được “
hiểu ngầm” qua các quy định của pháp luật về giải quyết TCĐĐ, quy
định về giải quyết các tranh chấp khác có liên quan đến QSDĐ trong các đạo luật
LĐĐ qua các thời kỳ và trong các văn bản pháp luật có
liên quan của các cơ quan nhà nước.
LĐĐ 2003 lần đầu tiên tại khoản
26 Điều 4 quy định: “
TCĐĐ là
tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất (NSDĐ) giữa hai hoặc
nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Khái niệm này đã được đón nhận với nhiều
nhận thức và cảm xúc khác nhau, bởi đây là một khái niệm có nội hàm tương đối
rộng và cũng không mấy rõ ràng. Theo khái niệm này, đối tượng tranh chấp trong
TCĐĐ là quyền và nghĩa vụ của NSDĐ. Nhưng, đây là tranh chấp
tổng thể các quyền và nghĩa vụ hay chỉ là tranh chấp từng quyền và nghĩa vụ
“
đơn lẻ” của NSDĐ do pháp luật đất đai quy định, hay bao gồm cả tranh chấp
những quyền và nghĩa vụ mà NSDĐ có được khi tham gia vào các quan hệ pháp luật
khác cho đến nay vẫn chưa được chính thức xác định. Bên cạnh đó,
chủ thể tranh
chấp vốn được gọi là “
hai hay nhiều bên” cũng không được định danh về loại chủ
thể: chỉ là NSDĐ hay tất cả các chủ thể có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của
NSDĐ trong quan hệ TCĐĐ? Chính sự chung chung này đã khiến cho nội dung của
TCĐĐ nhiều lúc được mở rộng tối đa ở mức độ có thể. Đã có quan niệm cho rằng,
TCĐĐ “
là tranh chấp phát sinh
giữa các chủ thể tham quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá
trình quản lý và sử dụng đất”; hoặc “
TCĐĐ là sự bất đồng, mâu thuẫn
hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào
quan hệ pháp luật đất đai”.
Rõ ràng, các quan
điểm trên đã mở rộng một cách tuyệt đối khái niệm TCĐĐ. Theo đó, TCĐĐ bao gồm
tất cả các tranh chấp phát sinh từ các quyền và nghĩa vụ của NSDĐ, và tất nhiên
trong đó có cả các tranh chấp tài sản gắn liền với đất, tranh chấp hợp đồng giao dịch về QSDĐ.
Theo quan điểm này, TCĐĐ là một khái niệm rộng, bao gồm tranh chấp QSDĐ và tất cả
các tranh chấp liên quan đến QSDĐ, kể cả trường hợp tranh chấp mục đích sử dụng đất (?) và tranh chấp về địa giới hành
chính theo Điều 137 LĐĐ 2003. Tuy nhiên, quan điểm trên
không thuyết phục vì đã không được chứng minh bởi một căn cứ pháp lý cụ thể
nào. Xem xét toàn bộ các quy định của pháp luật đất đai cho đến thời điểm này,
có lẽ chỉ có một quy định duy nhất mà thông qua nội dung và cách thiết kế của
nó, khái niệm TCĐĐ mới có thể được suy diễn theo nghĩa rộng, đó là Điều 136 LĐĐ
2003 về thẩm quyền giải quyết TCDĐ. Lý lẽ có thể được đưa ra ở đây là, Điều 136
LĐĐ 2003 khi quy định về thẩm quyền giải quyết TCĐĐ đã phân chia vấn đề ra
thành hai trường hợp: thẩm
quyền giải quyết tranh chấp QSDĐ và
thẩm quyền giải quyết tranh chấp
tài sản gắn liền với đất. Do đó, dựa vào nội dung Điều 136 LĐĐ 2003 người
ta có thể quy kết: TCĐĐ không thể đồng nhất với tranh chấp QSDĐ, hay nói cách
khác TCĐĐ là khái niệm rộng
hơn khái niệm tranh chấp QSDĐ.
Tuy nhiên, cách
hiểu trên lại vấp phải một vấn đề rất lớn về mặt pháp lý, đó là sự không phù
hợp giữa khái niệm TCĐĐ và vấn đề thẩm quyền, thủ tục giải quyết TCĐĐ, cũng như
một số quy định có liên quan khác của pháp luật về TCĐĐ. Thứ nhất, theo Điều 135 LĐĐ
2003, TCĐĐ buộc phải được thông qua hòa giải tại ủy ban nhân dân (UBND)
cấp xã nơi có đất, trước khi được đưa ra các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để
giải quyết theo quy định của pháp luật. Như vậy, nếu coi TCĐĐ là một khái niệm
rộng như trên thì các tranh chấp có liên quan đến đất đai như tranh chấp tài
sản gắn liền với đất, tranh chấp hợp đồng giao dịch QSDĐ cũng phải được hòa
giải tại UBND cấp xã. Điều này là không phù hợp với pháp luật đất đai, pháp
luật về tố tụng dân sự và thực tiễn cũng chưa bao giờ xảy ra, bởi đó chỉ là những
tranh chấp dân sự thuần túy và việc hòa giải tại UBND cấp xã như là một thủ tục
bắt buộc chỉ áp dụng đối với tranh chấp QSDĐ. Thứ
hai, quan niệm này cũng không phù hợp với thuật ngữ TCĐĐ được sử dụng tại
Điều 160 Nghị định 181/2004/NĐ-CP (NĐ 181) ngày 29/10/2004 về thi hành LĐĐ
2003. Cụ thể là, theo Điều 160 NĐ 181 thì việc giải quyết các “TCĐĐ” trong
trường hợp đương sự không có giấy tờ về QSDĐ được quy định tại khoản 1, 2, 5
Điều 50 LĐĐ 2003 sẽ thuộc về thẩm quyền của cơ quan hành chính. Tất nhiên ai
cũng biết rằng, cơ quan hành chính không thể giải quyết tranh chấp tài sản nào
khác, ngoài tranh chấp QSDĐ. Do đó, nếu lấy cách hiểu thuật ngữ TCĐĐ tại Điều
135 LĐĐ 2003, Điều 160 NĐ 181 làm chuẩn thì khái niệm TCĐĐ phải được coi là đồng nghĩa
với khái niệm tranh chấp QSDĐ.
Như vậy, phải hiểu
thế nào là TCĐĐ cho phù hợp, cả về lý luận lẫn về mặt pháp lý? Không thể có
việc một thuật ngữ pháp lý trong cùng một văn bản pháp luật lại được hiểu theo
nhiều cách khác nhau. Muốn làm rõ điều này, chúng ta cần có sự phân tích cặn kẽ
những cách hiểu khác nhau về TCĐĐ và hạn chế của quan niệm quá rộng nói trên về
TCDĐ.
Theo những phân
tích ở trên, thuật ngữ TCĐĐ tại khoản 26 Điều 4 và tại Điều 135 LĐĐ 2003, 160
NĐ 181 có thể được suy diễn theo hai hướng không giống nhau. Việc xác định thế
nào là TCĐĐ vì vậy sẽ phụ thuộc vào việc quy định nào được lấy làm chuẩn mực
cho khái niệm TCĐĐ. Nếu hiểu theo nghĩa rộng, khái niệm TCĐĐ tại khoản 26 Điều
4 LĐĐ 2003 sẽ được lấy làm tiêu chuẩn để đánh giá các quy định có liên quan còn
lại của pháp luật đất đai về vấn đề này. Từ đây có mấy vấn đề sau đây có thể
đúc kết:
Thứ nhất, quy định tại khoản 26 Điều 4 LĐĐ 2003
như đã phân tích ở trên là quy định không được rõ ràng, không cụ thể. Vì vậy,
việc lấy một quy định không rõ ràng làm tiêu chuẩn để đánh giá những quy định
cụ thể (Điều 135 LĐĐ 2003, Điều 160 NĐ 181) là hoàn toàn không khoa học. Hơn
nữa, việc mở rộng khái niệm TCĐĐ như trên không đem lại một giá trị thực tiễn
nào.
Thứ hai, cần nhớ rằng, mỗi một thuật ngữ có một
phạm vi biểu đạt ý nghĩa nhất định, không thể mở rộng hay thu hẹp một cách
không có giới hạn theo ý chí chủ quan được. Điều này không khó chứng minh khi
phân tích thuật ngữ TCĐĐ. Theo giải thích của Từ điển tiếng Việt thì tranh chấp
nói chung được hiểu là việc “
giành
nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào”.
Cho nên, thuật ngữ TCĐĐ tự thân nó đã nói lên
đối tượng tranh chấp: đó chính là
đất đai. Vấn đề là các chủ thể thực hiện hành vi TCĐĐ như thế nào, thông qua
yếu tố gì thì lại phụ thuộc vào vấn đề chế độ sở hữu đất đai. Trong điều kiện
của chế độ tư hữu đất đai, TCĐĐ thường là tranh chấp về quyền sở hữu đất đai.
Với chế độ sở hữu đất đai “
hỗn hợp” như trường hợp của Trung Quốc chẳng hạn
(với đất đô thị thuộc sở hữu nhà nước, đất ở khu vực nông thôn thuộc sở hữu tập
thể), TCĐĐ được xác định ở 02 dạng: đó là tranh chấp
quyền sở hữu và QSDĐ.
Từ các phân tích
trên cho thấy, TCĐĐ ở nước
ta theo quy định của pháp luật chỉ có thể hiểu là tranh chấp QSDĐ. Kết luận này được củng cố thêm bởi hai
cơ sở: một là, xuất phát
từ chế độ sở hữu toàn dân (hay sở hữu nhà nước) đối với toàn bộ đất đai, NSDĐ
chỉ có quyền sử dụng đối với đất đai, vì vậy, cái mà họ tranh chấp khi TCĐĐ chỉ
có thể là QSDĐ; và hai là,
các thuật ngữ TCĐĐ và tranh chấp QSDĐ đã được sử dụng như những thuật ngữ thay
thế nhau kể từ LĐĐ 1987 đến nay mà không hề có sự phân biệt.
Hơn nữa, các tranh chấp có liên quan đến QSDĐ của NSDĐ (gồm tranh chấp tài sản
gắn liền với đất, tranh chấp hợp đồng giao dịch QSDĐ) cũng đã từng được định
danh cụ thể trong một số văn bản hướng dẫn về thẩm quyền giải quyết tranh chấp
liên quan đến đất đai với tên gọi là “
tranh chấp liên quan đến QSDĐ”, chứ không
phải là TCĐĐ một cách chung chung. Do đó, việc mở rộng
khái niệm TCĐĐ như trên trong điều kiện Việt Nam là không hợp lý và làm lu mờ
đi đặc trưng của quan hệ đất đai, tạo ra một món “
thập cẩm” không có hương vị
rõ ràng, “
cơm không ra cơm, cháo không ra cháo”, vốn thường thấy ở những đầu
bếp bất đắc dĩ.
Ngược lại, việc
đồng nhất TCĐĐ với tranh chấp QSDĐ về mặt lý luận tạo nên được sự cụ thể về đối
tượng tranh chấp, làm nổi bật đặc trưng của quan hệ đất đai. Từ đây tạo ra được
một ranh giới tương đối rõ ràng giữa TCĐĐ với các tranh chấp dân sự thông
thường khác có liên quan đến đất đai và lý giải được tạo sao việc giải quyết
TCĐĐ lại có thể được tiến hành bởi các cơ quan hành chính nhà nước, theo các
thủ tục hành chính nhất định. Đó là, cơ quan hành chính không phải giải quyết
TCĐĐ dưới góc độ là một hoạt động phân xử về tài sản thông thường, mà với tư
cách là người đại diện chủ sở hữu quyết định ai sẽ là người có quyền sử dụng
đối với đất đang bị tranh chấp, khi đất đó về mặt hình thức pháp lý chưa được
chính thức trao cho ai sử dụng (đương sự không có giấy tờ về QSDĐ).
Nếu đồng nhất TCĐĐ
với tranh chấp QSDĐ thì nhiệm vụ còn lại ở đây là lý giải thế nào cho phù hợp
về khái niệm: “TCĐĐ là tranh
chấp về quyền và nghĩa vụ của NSDĐ” tại
khoản 26 Điều 4 LĐĐ 2003, dù rằng việc lý giải này là không cần thiết bởi ngôn
từ được dùng trong khái niệm trên chỉ là “sản phẩm” mang tính chủ quan của các
nhà làm luật. Dù sao đi nữa, chúng ta cũng hãy thử tiếp cận vấn đề từ thuật ngữ
“QSDĐ” – yếu tố mà các phân tích trên khẳng định là đối tượng của TCĐĐ.
QSDĐ, nếu xét ở
góc độ là quyền sử dụng một loại tài sản, hiểu theo nghĩa thông thường, chỉ là
quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản đất đai. Ở góc độ này, QSDĐ là một khái niệm pháp lý. Tuy nhiên,
theo pháp luật đất đai, ý nghĩa trên chỉ chiếm một phần nội dung về QSDĐ của
NSDĐ. Theo pháp luật hiện hành, ngoài việc khai thác, hưởng các lợi ích từ đất
đai nói trên, QSDĐ còn bao hàm cả việc NSDĐ được quyền thực hiện các giao dịch
về QSDĐ (như chuyển nhượng, thế chấp, tặng cho, ...) của mình như là những giao
dịch về tài sản. Và để được thực hiện các quyền giao dịch này, NSDĐ phải thực
hiện những nghĩa vụ tài chính nhất định đối với Nhà nước (như nộp tiền sử dụng
đất, tiền thuê đất, ... ). Ở góc độ này, QSDĐ mang nội dung kinh tế sâu sắc và
nó là một quyền kinh tế. Như vậy, QSDĐ là một khái niệm phức tạp – nó vừa là một khái niệm pháp lý, vừa
là một khái niệm kinh tế. Có thể khẳng định rằng,
QSDĐ trong pháp luật đất đai hiện hành là một khái niệm phức tạp mà nghĩa gốc
của các từ đơn lẻ hợp thành không đủ sức thể hiện hết nội dung và bản chất của
nó. QSDĐ vì thế có thể coi là một
tổng thể không thể tách rời các
quyền và nghĩa vụ của NSDĐ theo quy định của pháp luật đất đai.
Từ phân tích trên
có thể kết luận rằng, khái niệm “
TCĐĐ là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của
NSDĐ” tại khoản 26 Điều 4 LĐĐ cần được diễn giải là tranh chấp một tổng thể
những yếu tố hợp nhất tạo thành QSDĐ nói trên, chứ không phải là việc tranh
chấp từng quyền và nghĩa vụ rời rạc, đơn lẻ hay tranh chấp về các quyền và
nghĩa vụ khác của NSDĐ có liên quan đến các quyền nghĩa vụ nêu trên. Cách hiểu
này đặt khái niệm TCĐĐ trong mối quan hệ không thể tách rời với tất cả các quy
định có liên quan, chứ không phải cô lập nó hoặc đặt nó lên trên tất cả các quy
định khác nhằm phát huy trí tưởng tượng một cách thái quá, dẫn đến những suy
diễn không phù hợp. Có nghĩa là, không thể “
trộn lẫn”
TCĐĐ với những tranh chấp
dân sự thuần túy có liên quan đến đất đai.
Số 901, Tầng 9, Tháp A, Toà nhà Hà Thành Plaza, 102 Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại VP: 04 3724 6666 ; Di động: 090 574 6666
Từ khóa liên quan: Luật sư riêng,
pháp luật đất đai,
dịch vụ luật sư đất đai,
tư vấn pháp luật đất đai,
thủ tục nhà đất,
thủ tục hành chính về đất đai,
tranh chấp đất đai,
giải quyết tranh chấp đất đai,
lệ phí trước bạ nhà đất,
văn bản pháp luật đất đai,
tư vấn pháp luật miễn phí,
tư vấn pháp luật trực tuyến,
tư vấn pháp luật online,
tư vấn pháp luật thường xuyên,
tranh chấp nhà đất,
khiếu kiện đất đai,
khieu kien dat dai,
khiếu nại đất đai,
khieu nai dat dai,
tranh chap nha dat,
luat su rieng,
phap luat dat dai,
dich vu luat su,
tu van phap luat dat dai,
thu tuc nha dat,
thu tuc hanh chinh ve dat dai,
tranh chap dat dai,
giai quyet,
le phi truoc ba nha dat,
van ban phap luat dat dai,
tu van phap luat mien phi,
tu van phap luat truc tuyen,
tu van phap luat online,
tu van phap luat thuong xuyen,
tư vấn thủ tục nhà đất,
tu van thu tuc nha dat,
phân định mốc giới,
phan dinh moc gioi,
lấn chiếm đất ở,
lan chiem dat o,
lấn chiếm đất vườn,
lan chiem dat vuon,
tranh chấp nhà ở,
tranh chap nha o,
tranh chấp lối đi,
tranh chap loi di,
hòa giải tại xã,
hoa giai tai xa